• Hotline: +84982089198/ +84986333960
  • tech3dmaster@gmail.com
  • Thời gian làm việc: 8:00 - 17:30

CHỤP ẢNH 3D BÁC TRÀ

chụp ảnh 3D đại tướng Trà

Công việc chụp ảnh 3D bác đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên bộ trưởng BQP Việt Nam để tạo file ảnh trên máy tính sử dụng làm tư liệu lịch sử hoặc chế tác tượng lưu lại cho hậu thế...

scan 3d người

Bác Đại Tướng Phạm Văn Trà (sinh ngày 19 tháng 8 năm 1935) là một chính khách Việt NamAnh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, ông mang quân hàm Đại tướng và từng là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2006Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1995 - 1997), Ủy viên Bộ Chính trị khóa VIIIIX.

Mục lục

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông quê ở xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Năm 1953 tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam lúc 18 tuổi, phục vụ với vai trò lính thông tin. Năm 1964, ông là một trong những người chỉ huy của lực lượng đầu tiên tiếp viện cho chiến trường U Minh. Năm 1964 đến hết chiến tranh, ông là một sĩ quan Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam của lực lượng vũ trang miền Tây.

Năm 1973, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Quân khu 9, dưới quyền Đại tá Lê Đức Anh.

Từ tháng 12 năm 1975 đến năm 1977, ông lần lượt giữ chức Tham mưu trưởng Sư đoàn 4, rồi Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 330, Quân khu 9.

Từ tháng 9 năm 1978, ông về học tại Học viện Quân sự cấp cao. Đến tháng 8 năm 1980, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330, tham chiến tại Campuchia. Tháng 3 năm 1983, ông là Phó Tư lệnh Mặt trận 979.

Từ năm 1985 đến 1988, ông giữ chức vụ Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 9. Tháng 6 năm 1988, ông được điều về giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 3.

Từ năm 1989 đến 1993, ông giữ chức Tư lệnh Quân khu 3. Đến tháng 12 năm 1993, ông được cử làm Phó Tổng Tham mưu trưởng; từ tháng 12 năm 1995, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Trung tướng. Đến tháng 12 năm 1997, ông được phân công giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thay tướng Đoàn Khuê nghỉ hưu.[1]

Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII (1991-1996).[2]

Ông là Ủy viên Bộ Chính trị, Ban chấp Trung ương Đảng khóa VIII (1996-2001) , khóa IX (2001-2006)[3]Đại biểu Quốc hội liên tiếp 3 khóa 9, 10, 11.[4]

Ngày 28 tháng 6 năm 2006 ông được Quốc hội miễn nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.[5]

Ông được phong hàm Thượng tướng năm 1999Đại tướng năm 2003.

Phong tặng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được Nhà nước Việt Nam phong tặng Huân chương Hồ Chí MinhHuân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nhì và hạng Ba.[4]

  • Huân Chương Ítxala hạng Nhất - Huân chương cao quý của Đảng và Nhà nước CHDCND Lào (ngày 2 tháng 3 năm 2005).[6]
  • Huy hiệu 50 năm tuổi đảng Đảng Cộng sản Việt Nam (2006)[7], 55 năm tuổi Đảng (2012).[8]

Kỷ luật[sửa | sửa mã nguồn]

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII, lần thứ 11 (lần 2) đã họp tại thủ đô Hà Nội từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 24 tháng 3 năm 2001; Quyết định kỷ luật Khiển trách về trách nhiệm quản lý đối với Phạm Văn Trà Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng (Trích Nghị quyết Hội nghị TƯ VIII.11.2).[9]

Lịch sử thụ phong quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thụ phong 1995 1999 2003
Quân hàm Vietnam People's Army Lieutenant General.jpg Vietnam People's Army Colonel General.jpg Vietnam People's Army General.jpg
Cấp bậc Trung tướng Thượng tướng Đại tướng
 

Bài viết khác